Lược sử Fitness - Nghệ thuật của sức sống



Fitness, hay được hiểu là rèn luyện thể chất, như cách chúng ta được nhìn thấy ngày nay, dường như mang đậm màu sắc hiện đại phương Tây gắn liền với những hình ảnh "cơ bắp bãi biển" phủ sóng trên rất nhiều tạp chí thể thao và chương trình TV bắt đầu từ những năm 1970s. Tuy nhiên ngay từ trước khi Tể tướng Imhotep huy động hàng trăm nghìn cơ bắp để xây dựng lên những kim tự tháp đầu tiên tại Ai Cập, Fitness đã tồn tại như một phần trong cuộc sống sinh tồn của con người. Một điều đáng ngạc nhiên rằng, khi chưa có những phòng gym, những bộ bikini hai mảnh hay thậm chí những tờ lịch, tổ tiên của chúng ta đã có hình thể "ngon lành" hơn rất nhiều so với chúng ta ngày nay. Và thực ra, fitness chính là khởi nguồn của khoa học và nghệ thuật, hay nói một cách khác, fitness chính là sự hợp nhất của khoa học và nghệ thuật trong lịch sử của loài người.


Để hiểu thêm về Fitness và những giá trị nguyên thủy của việc rèn luyện thể chất, hãy cùng Vincent xem qua những thông tin sưu tầm và lược dịch được về lịch sử của "nghệ thuật của sức sống" này.


Thời nguyên thủy - Total Fitness

Trước khi trở thành một cơn sốt giá trị nghìn tỷ đô như hiện nay, việc rèn luyện thể chất đã giúp con người có thể hòa nhập vào tự nhiên và hơn hết, sinh tồn một cách khỏe mạnh. Nếu bạn sinh ra vào thời kì nguyên thủy của loài người, có thể bạn sẽ giống như loài gián khi luôn bị gắn một câu cảnh báo "Chạy ngay đi !" ngay phía sau đầu. Cuộc sống khi đó chính là những cuộc đi săn tàn nhẫn. Người nguyên thủy phải học cách để vận động cơ thể của mình một cách hiệu quả để có thể kiểm soát những cành cây, khúc gỗ hay cục đá. Một việc nghe có vẻ dễ dàng với những người ngồi lì trước máy tính trong một căn phòng lạnh ngày nay nhưng khi ở trong một khu rừng rậm trống trải với đầy kẻ thù, những sự cố đột biến và những đôi mắt đói khát luôn rình rập, sẽ không có thời gian cho bạn "1-2-3-4 hít thở hít thở".


Ngoài việc phải di chuyển liên tục hàng nghìn dặm, người nguyên thủy cần phát triển rất nhiều các kĩ năng như chạy, bơi, bò, trèo, giữ thăng bằng, nhảy lên cao, mang vác, chụp và ném cùng phòng thủ và chiến đấu. Tất cả trong một ! Sức mạnh và sự linh hoạt được phát triển không dựa trên bất cứ chương trình, kế hoạch huấn luyện phân kỳ nào hay một loại supplement nào. Đặc biệt hơn, ở giai đoạn này, cả nam, nữ và trẻ em đều cần sự rèn luyện toàn diện để thích ứng mọi lúc mọi nơi. Không một kỹ năng nào được chú trọng hơn kĩ năng nào vì ngay cả khi bạn đang hưởng thụ một bữa no nê, bạn có thể sẽ phải đánh vật rồi chạy thật nhanh ngay sau đó. Tất nhiên dù bạn có là 1 đứa trẻ, bạn vẫn phải sẵn sàng cho chuyện đó. "Săn hoặc bị săn", mục tiêu của chương trình fitness thời nguyên thủy vốn đơn giản như thế.


Cách mạng nông nghiệp - Những bộ kỹ năng mới sinh ra

Khoảng 10,000 năm trước công nguyên, con người đã kết thúc những ngày tháng di chuyển và săn bắt dài kỳ của mình khi cuộc cách mạng nông nghiệp mở ra. Việc trồng trọt và nuôi dưỡng gia súc là một chương trình lặp lại hàng năm đòi hỏi những kỹ năng khác biệt so với khi quây quần đi săn hay chuẩn bị một bữa BBQ vừa ăn vừa cảnh giác kẻ thù. Những kỹ năng phức tạp như chạy, nhảy, bò và trèo bị lược bỏ bớt bởi những kỹ năng đơn lẻ hơn như nhấc, đẩy và sắp xếp các vật nặng. Sự khác nhau giữa các nhiệm vụ và nhiều công cụ lao động mới được phát minh cũng đòi hỏi những bộ kỹ năng mới.


Fitness lúc này được phân hóa thành nhiều bộ kỹ năng khác nhau đáp ứng cho một giai đoạn phát triển mới. Sự phân hóa về giai cấp, các nghề nghiệp mới được sinh ra cùng với sự ra đời của những thành thị, quốc gia đầu tiên đã đẩy fitness tiến hóa lên một giai đoạn mới. Fitness cũng bắt đầu có sự phân hóa theo sự phát triển của kinh tế vùng miền. Những bộ lạc ở nước Xích Quỷ với nền nông nghiệp lúa nước trù phú dần trở lên "yếu ớt" hơn những cư dân Hoa hạ săn bắt trên núi cao.



Thời cổ đại - Cơ bắp của chiến tranh



Các triều đại sinh ra và dần va chạm với nhau, những cuộc chiến nổ ra đã tạo ra một vòng phát triển mới của fitness, sự nam tính hóa. Ở khắp các thành trì cổ đại, những cậu bé và các chàng trai trẻ được chiêu mộ, tập luyện những kỹ năng thể chất như thời tiền sử nhưng ở một cấp độ cao cấp hơn. Ưu thế về mặt di truyền đã tạo ra sự phân hóa trong rèn luyện thể chất, đã tạo ra những loại hình tập luyện mang đầy nam tính với những phụ kiện fitness đầu tiên là những bộ giáp bảo vệ và vũ khí.


Nhưng không phải lúc nào chiến tranh cũng xảy ra và những chiến binh cần được tuyển dụng từ những dân thường khỏe mạnh nhất. Từ những nhu cầu ấy, những bộ óc quân sự thiên tài đã tạo ra những sự kiện thi đấu, những môn thể thao đầu tiên của loài người. Những môn thể thao này hầu hết đều gắn liền với các kỹ năng cần thiết cho những cuộc chiến như chạy, nhảy, ném lao, đối kháng và đấu vật Theo ghi chép lịch sử, Olympic đầu tiên đã được tổ chức tại Hy Lạp vào năm 776 Trước Công Nguyên dưới thời đế chế La Mã. Tuy nhiên thực tế theo khảo cổ học chứng minh những cuộc thi Olympic tầm cỡ đã được tổ chức cách đó hơn 500 năm khi Hy Lạp vẫn còn độc lập.


Không chỉ những môn thể thao liên quan tới việc chuẩn bị cho chiến tranh, người Hy Lạp và sau này là La Mã cổ đại đã bắt đầu phát triển việc rèn luyện thể chất để đề cao vẻ đẹp của hình thể và sức mạnh cơ bắp. Họ coi việc rèn luyện thể chất và tinh thần trở thành một lý tưởng cao đẹp của nền giáo dục đương thời. Tại thời điểm này, những phòng tập thể dục (gymnasia) đầu tiên cũng được tạo ra. Sự đề cao này mang tính chất của một triết lý sống đã dần hình thành lên những nền tảng thẩm mỹ ảnh hưởng mạnh mẽ tới các loại hình văn hóa nghệ thuật khác. Fitness lúc này thực sự trở thành một nghệ thuật của sức sống mãnh liệt !


Phong kiến thần quyền - Thời kỳ đen tối của Fitness


Chế độ Phong kiến kết hợp với tôn giáo đã bao phủ toàn thế giới từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 19. Từ Phật giáo, Nho giáo tại phương Đông cho tới Thiên chúa giáo, Hồi giáo tại phương Tây, tôn giáo tập trung vào việc đề cao sự rèn luyện, tu tập tinh thần và bỏ quên việc rèn luyện thể chất. Hầu hết các tôn giáo đều trở thành nền giáo dục chính thức, coi trọng lễ giáo, tín điều và tất cả đều dành thời gian cho việc cầu nguyện một kiếp sau tốt đẹp hơn.



Ở phương Tây, các thành tựu tiến bộ vượt bậc về y tế, rèn luyện thể chất bị thiêu trụi trong mồi lửa của các cuộc thập tự chinh. Và cho tới thế kỷ thứ 16, người ta vẫn tin rằng việc cầu nguyện có thể chữa lành bệnh tật. Việc rèn luyện thể chất lúc này dần phân hóa thành chỉ dành cho các đội quân còn với dân thường, ngoại trừ tầng lớp nông dân phải quần quật cày quốc dưới trướng địa chủ, các tầng lớp khác trong xã hội tập trung vào các giáo đường tôn giáo hoặc khoa cử hơn là rèn luyện thể chất, thứ vốn đang được coi là tạm bợ và đẩy tội lỗi.




Còn ở phương Đông, việc rèn luyện thể chất có sự phát triển hơn với võ thuật vẫn được chú trọng và thịnh hành bên cạnh con đường văn chương khoa bảng và văn võ song toàn vẫn là một tiêu chuẩn cao cấp mà nam nhi hướng tới. Ngay cả những bộ môn võ thuật như kungfu, khí công, thái cực quyền hay Yoga tại phương Đông cũng tập trung vào phần tinh khí thần hơn là rèn luyện thể chất. Nhưng không thể không nói tới những người Vikings, một dân tộc lực lưỡng và cơ bắp nhất xâm chiếm khắp nơi từ thế kỉ 8-11. Hay như Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Nguyên Mông với một hệ thống huấn luyện thể chất tiên tiến lúc bấy giờ đã tạo ra một đội quân làm rung chuyển cả thế giới từ thế kỉ 12-14.


Tuy nhiên từ Đông sang Tây, cho tới thời kì này, vai trò của rèn luyện thể chất đã trở nên đặc biệt nam tính khi văn hóa phong kiến dần đi theo chiều hướng "trọng nam khinh nữ."


Thời kỳ Phục Hưng - Một khởi đầu tươi mới

Thời kỳ Phục Hưng (1400-1600) mang ánh sáng khoa học trở lại phá tan đi sương mù của đêm trường Trung cổ. Những thành tựu và giá trị của thời Hy Lạp La Mã về hình thể, sức khỏe, sinh học, giáo dục thể chất được tiếp tục phát triển.



Năm 1420, lần đầu tiên một trường học thời kỳ hiện đại với bộ môn nhân học được thành lập tập trung vào nghiên cứu giáo dục thể chất. Cho đến năm 1553, cuốn sách đầu tiên về thể dục và các lợi ích của nó được ra đời tại Tây Ban Nha với cái tên El Libro del Ejercicio Corporal y Sus Provechos. Trong cuốn sách này, lần đầu tiên thể dục và rèn luyện thể chất được tổng hợp, phân tích và đánh giá dưới cái nhìn y khoa. Đặc biệt hơn nữa, cuốn sách còn nói tới những phương pháp tập luyện cho phụ nữ, trẻ em và người lớn tuổi. Một bước tiến vô cùng lớn của Fitness.


Năm 1569 tại Ý, Mercurialis, một bác sĩ người Ý cho xuất bản cuốn sách Nghệ thuật thể dục (De Arte Gymnastica). Trong cuốn sách này tập hợp những nghiên cứu của tác giả đúc kết từ những tinh hoa về y học của thời Hy Lạp La Mã bao gồm cả chế độ ăn uống và các bài tập rèn luyện thể chất. Trong cuốn sách này cũng lần đầu tiên những nguyên tắc của vật lý trị liệu được trình bày với các hình minh họa rõ nét về cách thực hiện các động tác thể dục. Đây được coi là cuốn sách y học thể thao đầu tiên của loài người và có ảnh hưởng lớn đến làn sóng nghiên cứu các phương pháp rèn luyện thể chất tại châu Âu sau này.


Thời kỳ Khai sáng - Khỏe để bảo vệ đất nước

Cách mạng công nghiệp bùng nổ mang máy móc và các công cụ phức tạp vào đời sống con người. Cách chúng ta làm việc, sinh sống và đặc biệt là đi lại đã thay đổi. Ngoài chiến tranh, những cuộc khai khẩn các vùng đất mới rầm rộ vào thế kỷ 19... đòi hỏi khối lượng cơ bắp khổng lồ. Phong trào fitness trở nên phổ biến như một nghĩa vụ và niềm tự hào công dân tại khắp châu Âu và cả nước Mỹ non trẻ sau này.


Tại châu Âu

Vào năm 1774, tại Đức, trường Philanthropium được thành lập tập trung vào đào tạo thể chất có hệ thống với các môn nhảy, đấu vật, đấu kiếm, cưỡi ngựa biểu diễn và khiêu vũ...Lần đầu tiên, rèn luyện thể chất trở thành những môn học chính thức trong một chương trình giáo dục.


Đến năm 1800, cuốn sách Thể dục cho thanh thiếu niên được xuất bản tại Đức trở thành giáo trình thể dục đầu tiên trên thế giới. Cuốn sách này sau đó đã trở thành giáo trình tham khảo căn bản trong hầu hết các nước nói tiếng Anh lúc bấy giờ.


Vào năm 1810, Friedrich Jahn, một nhà giáo dục thể chất người Đức đồng thời là một nhà chủ nghĩa dân tộc tích cực đã trải qua cuộc xâm lăng của Napoleon, nhận ra rằng việc rèn luyện thể chất cho toàn dân sẽ giúp quốc gia của họ ngăn chặn các cuộc xâm lược. Năm 1811, Friedrich Jahn mở một tổ hợp tập luyện thể dục ngoài trời mang tên Turnplatz tại Berlin. Ở đây, ông đã tập hợp các chàng trai trẻ và giảng dạy việc rèn luyện thể chất và thể dục đường phố cho họ. Điều này đã tạo ra một phong trào thể dục mạnh mẽ lan ra toàn nước Đức, khiến Friedrich Jahn được mệnh danh là "Cha đẻ của môn thể dục". Cho đến năm 1816, Friedrich Jahn xuất bản cuốn sách Thể dục Đức tổng kết những lý thuyết trong hệ thống huấn luyện của ông. Trong đó, ông phát triển nên những dụng cụ thể dục như xà đơn, xà kép, bộ nhảy ngựa (pommel horse) và đẩy mạnh việc sử dụng vòng xà (gymnastics ring). Điều đặc biệt hơn trong cuốn sách của Friedrich Jahn, các khái niệm về gym và calisthenics được phát triển hướng tới tính ứng dụng thực tế và cải thiện chức năng vận động thay vì các động tác mang đậm tính nghệ thuật như thời kỳ trước. Phong trào của Friedrich Jahn đã tạo ra những đại hội thể dục đầu tiên với số lượng người tham dự lên tới 30,000 người.


Từ nước Đức, phong trào thể dục phát triển mạnh mẽ và lan toản khắp châu Âu. Nhiều lý thuyết tập luyện, dụng cụ mới được phát triển và thêm vào các hệ thống đào tạo thể dục thể chất.


Tại Thụy Điển, với người dẫn đầu Pehr Henrik Ling, đã phát triển một hệ thống thể dục đề cao cả phát triện hình thể và nét đẹp của cơ bắp bên cạnh tính chức năng, thực dụng như tại Đức. Thậm chí, hệ thống huấn luyện thể chất của người Thụy Điển còn được chia ra bốn phân ngành: sư phạm, quân đội, y khoa và thẩm mỹ.


Tại Pháp, Tây Ban Nha, phong trào huấn luyện thể dục trong quân đội được đẩy mạnh với hàng loạt trường học và các hệ thống phòng tập được phát triển đã tạo ra một trào lưu văn hóa fitness không chỉ dành cho giới quý tộc, quân đội mà còn cho cả người dân thường. Một cái tên nổi bật cần nói tới là Francisco Amoros, người đã tạo ra một hệ thống huấn luyện thể chất trong quân đội ở cả Tây Ban Nha và Pháp.


Tại Anh, khái niệm "những người khỏe mạnh nhất sẽ sống sót" (survival of the fittest) từ Charles Darwin đã tạo ra cú hích lớn cho nền thể dục của xứ sở sương mù. Những chàng trai trẻ muốn trở lên cường tráng hơn, mạnh mẽ hơn để có thể đứng ở trên đỉnh của hàng ngũ dẫn dắt đất nước họ. Năm 1858, một phòng gym với trang thiết bị tiên tiến nhất thời bấy giờ được mở tại đại học Oxford để đào tạo ra những chuyên gia huấn luyện thể dục cho quân đội Hoàng Gia Anh sau này.



Ở khắp mọi nơi, từ những cao nguyên tại Scotland cho đến Czech, Ba lan, văn hóa fitness trở thành một trào lưu nổi bật đại diện cho việc nâng cao sức mạnh và tầm vóc của mỗi dân tộc trước những cuộc chiến xâm lược.


Tại nước Mỹ

Do không phải chịu mối nguy xâm lược, phong trào thể dục tại Mỹ phát triển khá muộn. Tuy nhiên một điều đặc biệt là người tiên phong trong văn hóa fitness tại Mỹ lại là một người phụ nữ. Catherine Beecher, một nhà ủng hộ cho việc áp dụng rèn luyện thể chất vào các trường học cho cả nam và nữ đã phát triển lên một hệ thống tập luyện calisthenics kết hợp với âm nhạc. Vào năm 1823, bà đã cho mở Học viện Nữ Hartford, trở thành học viện giáo dục đầu tiên trên thế giới thực hiện những khóa học thể dục trong chương trình đào tạo dành cho nữ giới.




Cùng thời gian đó, phong trào thể dục của Friedrich Jahn tại Đức cũng lan tới Hoa Kỳ. Charles Beck, một học giả người Đức, người chịu ảnh hưởng từ phong trào tại quê hương đã cho mở một phòng tập thể dục ngoài trời với chương trình huấn luyện bài bản đầu tiên của nước Mỹ.


Tiếp theo đó, từ năm 1879 - 1919, Dudley Allen Sargent, giám đốc của Hemenway Gymnasium tại Đại học Harvard, đã trở thành nhà sáng lập cho hệ thống giáo dục thể chất của nước Mỹ khi kết hợp cả hai hệ thống giáo dục thể chất của Đức và Thụy Điển trong việc giảng dạy của mình. Ngoài việc thành lập nhiều phòng tập và nhiều cuốn sách về rèn luyện thể chất, ông còn là người cổ vũ phong trào tập thể dục của nữ giới. Dudley Allen Sargent cũng là người đầu tiên đưa ra cảnh báo "nếu không có một chương trình giáo dục thể chất chặt chẽ, mọi người sẽ trở nên thừa cân, mất dáng và vụng về".


Thế kỷ 20 - Sự phát triển của Fitness hiện đại

Dù vào năm 1796, một thiết bị tập luyện fitness đầu tiên được phát triển với cái tên Gymnasticon nhưng Fitness cho tới trước thế kỷ 20 vẫn tập trung vào những động tác tự nhiên của con người với những dụng cụ thô sơ và sử dụng sức nặng của chính cơ thể.


Cái tên đầu tiên phải kể đến trong sự phát triển của Fitness hiện đại là Georges Herbert, một sĩ quan hải quân và nhà huấn luyện thể chất người Pháp. Kết hợp các nguyên lý tập luyện từ Jahn và Amoros, Georges Hebert đã đã tạo ra một phương pháp tập luyện mang tên "Natural Methods" (Phương pháp tự nhiên) với các các động tác thể dục thực hiện trên các vật cản. Năm 1912, Herbert cho xuất bạn cuốn sách Giáo dục và rèn luyện thể chất hoàn chỉnh bằng phương pháp tự nhiên (Physical Education or Complete Training by the Natural Method ). Một năm sau đó, 1913, chính ông cho mở trung tâm tập gym hiện đại nhất lúc bất giờ tại Reims.


Cùng lúc đó, một người pháp khác là giáo sư Edmond Desbonnet đã đưa fitness lên một tầm cao mới bằng việc tạo ra những tạp chí fitness đầu tiên trong đó sử dụng hình ảnh của những vận động viên chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, ông cũng là người đầu tiên cho mở một chuỗi câu lạc bộ tập luyện, biến fitness trở thành một nền công nghiệp kinh doanh. Trong thời kỳ đỉnh cao nhất của mình, Giáo sư Desbonnet sở hữu tới 200 trung tâm fitness với hàng loạt các vận động viên thể hình, strongman thời kỳ thuở sơ khai trở thành người đại diện của ông.


Tại nước Mỹ, Bernarr McFadden trở thành một giáo trưởng (guru) cho một thứ văn hóa mới đang phát triển mạnh mẽ, tôn giáo fitness. Ông đề cao một lối sống lành mạnh với việc rèn luyện thể chất và loại bỏ các thứ không lành lạnh như chất cồn, bánh mì trắng khỏi chế độ ăn.


Trong lĩnh vực rèn luyện thể chất, McFadden tạo ra và bán những thiết bị tập luyện cơ bắp đầu tiên cùng với việc lập ra tờ báo cơ bắp đầu tiên tại Mỹ Physical Culture (Văn hóa thể dục) năm 1899 với các bài báo chuyên đề tập trung vào việc phát triển một nhóm cơ bắp. Tờ báo này sau đó có tới 35 triệu độc giả, biến McFadden trở thành triệu phú fitness đầu tiên. Ông đồng thời cũng tổ chức cuộc thi hình thể đầu tiên tại Mỹ năm 1903 và nhiều cuộc thi khác vào những năm 1920-1921.


Desbonnet và McFadden đã trở thành những nhà khai sáng cho nền công nghiệp fitness hiện đại. Từ đó, fitness bùng nổ mạnh mẽ với tốc độ phát triển khủng khiếp với hàng loạt các bộ môn rèn luyện, các môn thể thao, trình diễn liên quan và hàng nghìn tỷ đô la hàng năm dành cho những phương pháp cải thiện vóc dáng và sức khỏe, những thiết bị tập luyện ngày càng một hiện đại, tạp chí, sách ảnh, video, thực phẩm, thuốc, cả một nền văn hóa đề cao thẩm mỹ hình thể và cả những công nghệ tiên tiến nhất đi theo.


Rèn luyện thể chất đi từ những động tác săn bắn nguyên thủy phát triển thành một trào lưu văn hóa đa dạng với nhiều khuynh hướng từ thẩm mỹ, thi đấu thể hình cho tới các môn thể thao và trình diễn sức mạnh cơ bắp.


Ngày nay

Trải qua hàng thiên niên kỷ, nền công nghiệp fitness đã phát triển với hàng loạt phương pháp, hệ thống và công nghệ huấn luyện với mong muốn mang đến một sức sống mạnh mẽ hơn cho con người. Và nền công nghiệp đó đang bị chia rẽ. Bên cạnh những thành tựu khoa học hữu ích cũng có những lời hứa hão huyền trị giá hàng tỷ đô.


Những phương pháp và thiết bị mà mọi người đã chi hàng triệu đô la trong thế kỷ qua nhằm mục đích có được vóc dáng đẹp nhất trong thời gian ngắn nhất như đai rung bụng, những cuốn sách ăn kiêng theo mốt, trà detox, giảm cân, phòng tập thể dục tại nhà Bowflex, Pilates, P90X, Wii Fit, Power Plates...đã trở thành "mặt tối" dối trá của Fitness.


Tuy nhiên bên cạnh những trò lừa khó kiểm soát, hàng loạt các thành tựu khoa học hữu ích về khoa học hình thể và rèn luyện thể chất đã giúp thế hệ ngày nay nâng cao sức khỏe và tận hưởng cuộc sống tốt hơn. Các nhà khoa học trong phòng lab với chuột và thỏ đã dần bước ra những phòng tập để thật sự đổ mồ hôi. Và lần đầu tiên kể từ thời Phục Hưng, rèn luyện thể chất được nhìn nhận như một phương thuốc mới trong thế giới y sinh. Tại Mỹ và những nước tiên tiến, những huấn luyện viên cá nhân, các fitness coach dần trở thành một phần không thể thiếu trong điều trị y khoa và nâng cao sức khỏe. Hiện tại, không chỉ các bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình mà ngay cả các chuyên gia điều trị ung thư cũng phải tham khảo ý kiến từ các huấn luyện viên cá nhân để có một phác đồ điều trị và phục hồi của bệnh nhân.


Và fitness ngày nay, đã không chỉ là một trò vật lộn sức mạnh mà dần trở thành một lối sống lành mạnh, một phương thuốc cho xã hội loài người hiện đại đang ngày một lười biếng và yếu ớt hơn.



20 views